Wednesday, 13 September 2017

Chàng Còn Đó Bên Đời Hiu Quạnh


Phố Tịnh



How irksome is this music to my heart?
When such strings jar, what hope of harmony?

1.

“Một lời nói với bông hoa trên đồi, một lời nói đã phai.
Một điều giấu kín trong tim con người là điều giấu kín thôi”

Hãy giở bất cứ bài hát nào trong hai tập nhạc mới của chàng, ta sẽ gặp những lời tự tình rất đỗi thê lương như thế. “Một chiều núi bỗng mang thân cánh đồng, thì cùng giòng nước khóc giùm” (Một lần thoáng có).  Người nghe nhạc Trịnh Công Sơn – vâng, chàng chính là Trịnh Công Sơn – bây giờ liên tiếp bị đẩy vào tâm trạng ngỡ ngàng chới với. Có phải không đấy là những lời nói của kẻ tội đồ trong phòng kín? Có phải đấy là những giọt rượu nồng cho kẻ lãng du lạnh ngập hồn xa xứ? Một Trịnh Công Sơn xa lạ hẳn với dĩ vãng trẻ trung năm bẩy năm trước đây đã và đang lầm lũi trên những nốt nhạc buồn trong hai tập ca khúc Khói trời mênh mông và Tự tình khúc.

2.

Sáu năm trước, khi TCS phổ biến Những Tình Khúc Trịnh Công Sơn là lúc tên người nhạc sĩ ấy gắn liền với loại ca khúc “da vàng”, loại quê hương và thân phận. Quả có thế, giữa khi đất nước sục sôi trong tình cảnh bi thương mà các nghệ sĩ khác đành bó bút, không hát nổi được nỗi lòng người dân thời loạn lạc, nhạc TCS phải được xem là một hiện tượng quý giá. Nhạc của ông “là một thứ rượu mạnh cho kẻ tội đồ”, nói theo kiểu George B. Shaw. Hình ảnh người “mẹ ngồi ru con nước mắt nhục nhằn xót xa đời mình” (Ca dao mẹ) hay một người già nằm co ro nghe tiếng nổ và đứa bé trần truồng khóc tuổi thơ đi (Người già em bé) quả thực là những hình tượng rất hiện thực trong nghệ thuật VN những năm tháng đó. Cái tâm sự ngổn ngang của cả một lớp thanh niên ngày ấy in rất đậm nét trong trên những tiếng nhạc Blues của những bài hát da đen như Nước mắt cho quê hương, Cúi xuống thật gần, Xin cho tôi, Phúc âm buồn [1]. Nhạc tình của TCS bị chìm khuất sau khuôn dáng ấy. Không ai có thì giờ để nghe chàng tâm sự: “Bây giờ nhớ về tình yêu cũng như hoài niệm về một cổ tích huyền hoặc. Người ta không còn có thể nói với nhau. Chỉ nói với riêng mình, và tiếng nói được trả về từ cõi chết làm trung gian thường trực giữa hai kẻ đối diện... Trong cõi-riêng-ta có một con chim bé nhỏ đứng nhìn và hót hoài điệp khúc buồn bã đó... Chỉ có trong tình yêu ta mới bắt gặp được cái chết của chính mình...”[2] Những bản tình ca của TCS đẹp nhưng buồn lắm. Tình buồn ướt sũng trong những ca khúc viết ở âm thể thứ (mode mineur). Những ca khúc ấy kể lể một cổ tích tình yêu của ai đó, nghe rền rĩ như tiếng kinh cầu trong nhà nguyện thâm u: “và tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vừa. Rồi từ đó loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiền. Để người về hát đêm hồng. Địa đàng còn in bước chân bước quên”. (Dấu chân địa đàng). Tình yêu, ồ, chỉ là lời vô vọng. Con người chỉ là những con thiêu thân bay mãi vào ảo tưởng tình yêu thôi : “tôi ru em ngủ một sớm mùa xuân, em hôn một nụ hồng hỏi thăm về giọt nắng. Tôi ru em ngủ hạ cũng vừa sang, em hôn lên tay mình để chua xót tình trần” (Tôi ru em ngủ).

Tình yêu chỉ là một dĩ vãng để hoài tưởng, để trông vời mà thôi. Như cánh vạc bay như cỏ xót xa đưa. Như những hình tượng nào héo nhất, buồn nhất. Thế cho nên, chúng ta cũng chỉ gặp một TCS độc thoại trong hai tập ca khúc khác ra đời năm 1970: Như cánh vạc bay và Cỏ xót xa đưa. Vẫn lừng lững trong đó một con hồng nhạn bay tìm chỗ đậu. “Xin đứng yên trong chiều, trên môi thở khói quạnh hiu. Xin đứng yên trong chiều, hong tình cho nắng khô mau. Về đây thân xác hư hao. Đêm đêm nằm nghe lá than van chút niềm đau ngọt ngào” (Tình xót xa vừa). Trong trái tim giọt máu vừa khô,chiều cũng mù loà với cánh dơi bay loạn. Đời người vẫn mịt mùng như tình treo trên chiếc đinh không.

Nét nhạc TCS không khi nào bị lẫn cả, luôn luôn có phong thái riêng biệt, càng ngày càng sắc hơn, riêng tư đến độ lạc loài. Tình của chàng không còn ướt đẫm vẻ buồn sướt mướt mà đã lì lợm, không muốn than van, vẻ buồn mà Cung Tiến gọi là “buồn majeur” không phải là một bước đổi thay tình cờ trong nhac TCS đâu. Nó chỉ là một biểu hiện tất yếu cuả tâm sự một kẻ lạc lõng không có một bếp lửa mà trở về, chẳng một đốm lửa mà hong con tim ướt: “Đêm ta nằm bóng tối che ngang. Đêm ta nằm nghe tiếng trăm năm gọi thì thầm gọi thì thầm. Đêm nghe trời như hú như than, ta nghe đời như có như không, còn lại mình đời bềnh bồng, đời buồn tênh” (Còn có bao ngày). Những bài hát tiêu biểu nhất của TCS trong hai tập ca khúc này đều là những ca khúc nhạt nhoà sầu thương, đượm vẻ dửng dưng tỉnh táo (hay mỏi mệt?) của một kẻ tuyệt vọng. Hãy nghe lại một lần những ca khúc ấy: Ru ta ngậm ngùi, Như cánh vạc bay, Rừng xưa đã khép, Tình xót xa vừa, Rồi như đá ngây ngô. (Như cánh vạc bay) Còn có bao ngày, nghe những tàn phai, Vẫn nhớ cuộc cuộc đời, Cỏ xót xa đưa (Cỏ xót xa đưa).

Những ca khúc ấy có chung một hành âm lơ lửng vật vờ của nhịp điệu 3/4 hay 6/8. Tiết điệu đều đặn ấy vẫn là bản sắc của TCS chứ gì, lối chuyển cung bất ngờ giữa bài hát cũng là bản sắc nhạc của chàng, đồng ý, nhưng ở đây nó tố cáo một TCS đã chín, đã già (người nhạc sĩ già giặn và người tình già nua). Điểm đáng để ý nữa là nhạc TCS từ đây đã manh nha xu hướng thoát bỏ chủ âm để tiến đến nhạc atonalité. Điệp khúc của bài Nghe những tàn phai hay những bài Rừng xưa đã khép, Rồi như đá ngây ngô là những thoáng hiện nhưng còn rất e dè.

3.

Tâm sự một kẻ lạc lõng? Vẻ dửng dưng tỉnh táo của một kẻ tuyệt vọng? Con chim muộn phiền hát mãi điệu da đen như tiếng kèn đồng giữa đồi núi đêm trùng của Prewitt [3], (ôi chao kẻ lạc loài Montgomery Clift vẫn quấy nhiễu lòng ta hoài không nguôi. Tant qu’il y aura des hommes. Tant qu’il y aura des hommes?) Hay nói như chàng: “Đời vẽ tôi tên mục đồng, rồi vẽ thêm con ngựa hồng, từ đó lên đường phiêu linh”. (Chỉ có ta trong cuộc đời) Con ngựa hồng đã lên đường bằng sự ra đời của hai tập ca khúc mới: Khói trời mênh mông và Tự tình khúc (Nhân Bản – 1972).

Trong một lần phỏng vấn trên Đài phát thanh quân đội (14-3-1973), TCS trả lời cô Mai Hân đại khái thế này: “trong nhạc của tôi thường có hai tình tự: một tình tự giữa những người đồng bào, và tình tự giữa hai người. Riêng tình tự giữa hai người thì tôi nhận thấy nó rất nhạt mờ” người nghe có cảm tưởng người nhạc sĩ hắt hủi, ruồng rẫy những tình khúc của mình. (Nhưng ông TCS ơi, ông đẻ chúng ra làm gì để bây giờ ông làm tình làm tội? Đau lòng lắm lắm!). Có nghe lại những khúc hát mới của ông mới hiểu ý tình của người nhạc sĩ hà tiện lời nói kia.

Tình yêu là món đồ cổ nhất trong các món cổ vật của loài người. Yêu có nhiều cách thế, yêu thầm, yêu đương, yêu ra rít. Điều kiện cần và đủ của tình yêu là yêu nhau, bởi vì chỉ một kẻ yêu thôi thì chỉ là tình tuyệt vọng, tình yêu một chiều (tình yêu mà ông Y Vân gọi là Em-đi trước-anh-sau đó). Xin phép được làm rườm tai những kẻ yêu nhau để nhắc lại câu nói nghìn vàng: “Il faut deux pour nommer le ciel est beau.” (Lacroix). Những tình khúc của người yêu nhau đều no đầy hạnh phúc, ấy chẳng phải là điều lạ lùng. Người ta không thấy ca khúc nào của Phạm Duy đượm vẻ bi đát của một người tình tuyệt vọng. Nét buồn trong nhạc Phạm Duy chỉ là những xúc động tạm thời của người tình lạc quan. Chiều duyên dáng hiền lành của nhạc tình Phạm Duy cắt nghĩa tại sao những cặp tình nhân đang yêu nhau rất ham chuộng, họ tưởng mình đang “Dìu nhau sang bên kia thế giới, Dìu nhau nơi quê hương mãi mãi, Dắt dìu về tới xa vời đời đời, dìu nhau đưa nhau vào nghìn thu” (Thương tình ca). Có khi họ buồn đắm khi tưởng tượng mình đã nghìn trùng xa cách nhưng rồi vẫn tìm nhau, và sẽ “gặp nhau trong nhân tình đầy bác ái, ơi người, gặp nhau trong kinh cầu một hồi chuông”, (Phạm Duy – Tìm nhau).

Sẽ không thấy được bầu không khí nồng ấm kia trong nhạc TCS bây giờ. Người nghe chỉ gặp ở đó một người tình khắc khoải, khắc khổ, thốn tâm can vô cùng. Người tình đi giữa phố lạ, tưởng chừng chung quanh là đồng vắng, chỉ có tiếng gà trưa là dấu hiệu độc nhất của sự sống. Một mình tôi bước hoài bước hoài.  Con tim thều thào không nguôi, không nguôi, giữa phố đông người đang mộng mị trong giấc ngủ trưa, tôi thấy “đời ta có khi là lá cỏ, ngồi hát ca rất tự do” (Đêm thấy ta là thác đổ). Em thấy đó, một kẻ cô độc giữa đời mình; hắn đi bên bờ nấm mộ vàng, căn phần dành cho riêng những người ở dọc đường bơ vơ, “những khi chiều tới cần có một tiếng cười để ngậm ngùi theo lá bay. Rồi nước cuốn trôi. Rồi nước cuốn trôi” (Để gió cuốn đi). Dường như tôi gặp đâu đây một người lãng trí, rất ngây thơ trong vẻ mệt mỏi vì hệ luỵ cuộc đời đã đè quỵ trên vai. Hắn la hét một lần cuối: “hãy ca cho tôi nghe một bài hát mới”. Rồi im lặng triền miên. Vô ngôn. Ôi, Nietzsche đã chết rồi. Bồi hồi đối ảnh độc vô ngữ. Bạch phát sở hành thuỳ ngã khâm” (Nguyễn Du -La phù giang thuỷ các độc toạ). Nguyễn Du cũng đã chết rồi, làm sao nghe được lời tự tình rất đỗi ngậm ngùi kia?

Trong nhạc TSC bây giờ chỉ có một người trơ trụi, đứng lóng cóng giữa đời xôn xao. Hắn mở toác hoác con tim cho mọi người. ”Tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài... Tôi như là người lạc trong đô thị một hôm đi về biển khơi...(Tự tình khúc) Đã bao lần, tôi gửi lòng tin của mình vào tình yêu, tôi chờ đợi mãi một tiếng cười, một đoá hồng trong lãng quên. Nhưng bây giờ thì chẳng còn gì, tôi đã thua đậm một canh bạc một đời người (Vì em đã mang lời khấn nhỏ, bỏ tôi đứng bên đời kia” (Đêm thấy ta là thác đổ). Đời ta đã tắt lửa lòng rồi sao, những mộng cao vời ấy) Những đêm; những đêm xuân trăng không còn mọc, những mùa thu mua riêng tình sầu. L’homme tragique que se découvre soudian sans amour, sans valeur et sans vie; voilà le bilan tragique, et voilà notre surprise éternelle” (Clément Rosset, La philosophie tragique. P.U.F. p. 22).   

Chàng chỉ còn mỗi một món hành lí còm cõi: trí nhớ. Ngày xưa, ngày xưa khi tiếng cười còn xanh, khi mắt chưa vàng màu bội bạc. Ôi quê xưa, nhánh quê xưa mà tôi vẫn nghe hoài một tiếng gọi về. Có ai chỉ giùm tôi con đường tình một thời xa xăm? Có ai không? Ngày nào, ngày nào xưa? “Lòng ta có khi tựa như vắng ai. Nhiều khi đã vui cười, nhiều khi đứng riêng ngoài. Nhiều đêm muốn đi về con phố xa. Nhiều khi muốn quay về nằm yên dưới mái nhà”. (Lời thiên thu gọi). Ngày đó con sông là điểm tựa cho tình ta, sông là chứng tích cho cuộc tình rất đẹp của đời mình. Trời rất xanh và tiếng hát rất nồng. Bởi vì có ta yêu nhau. Thế mà, cuộc tình cũng phôi pha, “ nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà, từ những phố kia tôi về...Nhiều đêm thấy ta là thác đổ, tỉnh ra có khi còn nghe”(Đêm thấy ta là thác đổ) Tình yêu? Không, chỉ có một giọt rượu tàn vừa bốc hơi. Không, chỉ còn đôi cánh trắng tít mờ đằng xa kia. “Từ đó trong vườn khuya, ôi áo em xưa là một chút mây phù du, đã thoáng qua đời ta” (Đoá hoa vô thường). Em ở đâu rồi? Hãy đưa tay cho anh vịn tỉnh đêm tàn, sống dậy bến tình quên. Ôi chao, con tim oan khiên, khối tình tội nghiệp. Đời tôi chẳng còn điều gì mới lạ cả, còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi, (ôi tâm sự buồn của những Kiều nương giữa đời đoạn trường). Tôi đã sống rất ơ hờ, lòng tôi có đôi lần khép cửa. Trong tôi ngổn ngang những vực sâu, những chán chường; trong tôi có một giải đất mới, sa mạc nối dài. Như Cain, tôi cũng là một kẻ chạy trốn và kẻ lang bạt trên đời này(Genesis 4,12; a fugitive and a vagabond shalt thou be in the earth). Những tiếng hát của TCS hôm nay là những lời kể lể về tâm sự của người tuyệt vọng không còn thấy liên hệ giữa mình và người xung quanh. Kẻ tuyệt vọng là kẻ mất quê nhà, lưu vong giữa lòng ốc đảo trơ trụi. All lost in the wonderland, a strange in Paradise. Một ca khúc nước ngoài cũng đã nói đến tâm sự ấy. Nhưng ở TCS, khuôn mặt của những kẻ lạ mặt bị soi chiếu tàn nhẫn không dấu diếm. Có thể gọi nhạc TCS là thứ nhạc Dionysos không?. “Sous le charm the Dionysos non seulement le lien se renoue d’homme à homme, mais même la nature qui nous est devenue étrangère hostile ou asservie, fête sa réconciliation avec l’homme, son fils prod gue”. (Nietzsche, La naissance de la tragédie. coll. Idées, p.25-26). Cuộc sống hôm nay tả tơi dường ấy, quanh đây chỉ thấy bóng căm thù, đất đá, sa mạc và giông bão. Tiếng  hát ấy cất lên, có phải là tiếng gọi mời hay một dây liên lạc mới? Có phải tiếng hát lôi kéo đứa con hoang bị ruồng rẫy trở về với mẹ? Nhưng than ôi, chính tiếng hát ấy, chính tiếng hát ấy hôm nay cũng là một đứa con hoang đàng, thì biết ai hát và ai nghe? Có điều chắc chắn nhất là nhạc TCS bây giờ phơi bày cho người nghe thấy hình ảnh của kẻ, của những kẻ xa lạ, đi hoang trên đời sống, ôm con tim lạnh lẽo vì đơn côi. Nhạc đó là tấm mồ lớn của chúng ta.

Tình yêu làm sao có thể tồn tại được trong nấm mồ hoang liêu như vậy? Người tình trong nhạc TCS đã bao nhiêu lần gió rét, đã không bao giờ nguôi ngoai.

Ngôn ngữ nhạc TCS, do vậy,đã lạnh băng như chưa bao giờ lạnh đến thế. Lời nhạc của ông bây giờ chỉ chụp bắt được những hình ảnh lạnh như tình trong nhạc của ông. Một bản thống kê sơ sài những hình ảnh trong lời hát TCS cho thấy rõ hai kiến trúc chính: một loại diễn tả ý niệm vắng lạnh (con phố lạ, con đường hiu quạnh, cơn gió vây trùng, lòng vẫn ơ hờ, khói trời mênh mông, nước mắt cỏ lá buồn tênh, ngọn đèn từng đêm vơi cạn, sa mạc nối dài...), một loại cho ta cảm thức về sự phôi pha, mất mát (nụ cười mong manh trong gió, tim héo, vết thương sâu, gió bay qua chân cầu, dòng sông chở hồn thương đau, em về biển xa, môi son biếng lười, héo xanh...). Ngôn ngữ lời ca của TCS thiếu thốn quá nhiều hơi ấm. Rượu ư? Không phải để sưởi ấm lòng ta đâu, nó dìu ông đến cái chết đó, “Đường nào dìu tôi đi đến cơn say. Một ngày nằm mơ tôi thấy tôi qua đời” (Bên đời hiu quạnh).

Cái lạnh không chỉ nằm ở lời hát mà nó còn nằm lồ lộ ở tiết tấu từng bài.Thường thì hành âm của những ca khúc TCS đều cùng một khuôn mẫu: những nốt dài ngắn sóng đôi nhau tạo thành vẻ đều đặn rền rền như tiếng mõ kinh. Bài Khói trời mênh mông là một thí dụ điển hình: Ta về nơi đây phố xưa dấu đạn, con đường bên sông cỏ lá buồn tênh... Những nốt có lời in nghiêng là những nốt dài và mạnh. Quãng cách giữa nốt trước và nốt sau luôn luôn gần gũi nhau, chỉ là những quãng hai, quãng ba hay quãng bốn là nhiều, ít thấy những nốt nhạc bùng vỡ nổi loạn trong các ca khúc TCS. Hình như tiếng nhạc chỉ gượng nhẹ, e làm kinh động cuộc đời chăng? Hay là vì cõi lòng đã lịm từ bao lâu, không còn muốn gì nữa, đã mỏi mệt lắm rồi?

Chưa bao giờ ta gặp những bài hát ma quái, lạnh lẽo đến thế. Cách điệu monotone của nhạc sĩ TCS bấy lâu nay phải được cắt nghĩa một phần dựa vào tâm sự não nùng của người soạn nhạc, chính dáng vẻ lờ đờ của dòng nhạc TCS đã phân biệt khuôn mặt ông với những người trẻ tuổi khác. Hãy so sánh với trường hợp Lê Uyên Phương. Nhạc của Phương cũng thể hiện chất tragique de l’amour. Tình nhân trong nhạc LUP tâm sự với nhau, yêu vội vàng, yêu ngấu nghiến tình yêu của họ qua tiếng nhạc xôn xao. Tâm sự với nhau là vì hạnh phúc của LUP có thật, nó tràn trề trong tiết điệu bài ca, trong lời ca. Khi ngợi ca những ngày tháng vui vầy, nét nhạc nhún nhẩy hân hoan, sung mãn, đam mê (Một ngày vui mùa đông). Vẻ bi đát trong nhạc LUP nằm ở chỗ: tình nhân biết rõ điểm cuối của một hạnh phúc, và nhân danh hạnh phúc đã có, hát cho hạnh phúc ngày mai sẽ mất. Bài hát điển hình cho tiếng hát ấy là Vũng lầy của chúng ta: hành âm nhanh ở đoạn Sol thứ, chuyển sang rền rĩ ở đoạn sol trưởng, quấn quít nhau. Nhưng buôn vui vẫn phân biệt. Bài hát Đêm chợ phiên mùa đông không có nét nhạc buồn bã như Vũng lầy của chúng ta, Còn nắng trên đồi. Ngôn ngữ nhạc LUP dù sao vẫn là ngôn ngữ của những người hạnh phúc, như trường hợp Phạm Duy vậy. Ở TCS, vui buồn cùng trùng lên nhau. Nói đúng hơn, tiếng đời trên nhạc TCS chỉ có ý nghĩa một hồi chuông báo tử. Rất đỗi ngậm ngùi. Tiếng chuông lắng mau, ta nghe, nhưng cái chết đuổi ta với tốc độ nước rút; chuông rền, ta nghe như khắc khoải đợi chờ phút ấy. Nhịp độ những ca khúc TCS bây giờ cũng thế, quanh quẩn chỉ có ba loại: rền rền chậm rãi, trung bình và nhanh.

Những bài có nhạc điệu chậm rãi như Lời ở phố về, Yêu dấu tan theo, Sẽ còn ai chẳng hạn, điệu hát lê thê như không muốn dừng lại ở nốt nào. Ta tưởng chừng như những nốt nhạc cũng biết ngái ngủ; một chuỗi quãng hai nép vào nhau lên lên xuống xuống với nhịp điệu rền rền. Buồn và nản. Con ngựa già mỏi mệt của kiếp sống đó. Vận tốc những bài Em đi trong chiều, Xanh lòng tàn phai, Nguyệt ca, Tự tình khúc không chậm không nhanh; chúng chỉ lãng đãng như dáng hững hờ của người khách lạ, chúng lạnh băng như không chút quyến luyến người nghe, không can hệ với cuộc đời của chúng. Nhịp xe lăn đều lănđều, nhịp đồng hồ gõ hoài không ngơi. Đấy là những ấn tượng rõ ràng của người nghe khi thưởng thức những ca khúc có nhịp điệu bình thản kia. 

Trong hai tập nhạc còn có loại thứ ba vận tốc nhanh hơn, nghe như tiếng mưa gấp. Đấy là những bài Khói trời mênh mông, Để gió cuốn đi, Bên đời hiu quạnh, Đoá hoa vô thường. Rằng hay thì thật là hay, Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào! Nhạc điệu ma quái không thể tưởng tượng. Mỗi lần nghe bài Bên đời hiu quạnh, chúng ta lại thấy sừng sững nỗi khổ đau ngất ngất như giông như gió loạn đời mình. Ấn tượng ấy phải chăng là nhờ ma lực của nhạc điệu cuốn gấp của bài hát?Trường hợp Đoá hoa vô thường là một điển hình cho nhạc TCS bây giờ: nhạc điệu biến hoá từ chậm sang nhanh, rồi thanh thản. Tiết tấu bài ca cũng thay đổi tuỳ đoạn. Chúng tôi nói TCS già giặn chính là muốn nhấn mạnh đến giá trị chính tả của những bài hát như vậy: những lúc chuyển cung thần tình, đem dấu hoá bất thường vào câu nhạc rất đắc địa.

Có cần phải nói thêm điểm này: TCS dạo này rất sính dùng nhịp kép? Điều ấy có lẽ phải giải thích từ nét nhạc của ông bây giờ phức tạp hơn, nên những nhịp kép như vậy mới chính tả được ý nhạc của người viết.

4.
      
Ngày nay, TCS không còn là một hiện tượng của nhạc phổ thông Việt Nam như năm bảy năm trước. Hôm nay là thời của nhạc trẻ. Nhạc trẻ là gì thế? Đến hôm nay dường như chưa ai xác định thế nào là nhạc trẻ ở Việt Nam này![4] Có điều chắc chắn nhạc TCS không được hân hạnh xếp hàng với nhạc trẻ. Nhưng nói thế không có nghĩa là TCS không còn người nghe. Trái lại, phải nói ngay là người nghe nhạc TCS bây giờ là một số nhỏ, gạn lọc. Đấy là quy luật khắc nghiệt nhưng đúng với sinh hoạt văn nghệ: văn nghệ càng nghiêng về phẩm, càng xa cách quần chúng. Nhạc TCS bây giờ nghiêng về phẩm? Nghe hơi kì khôi, làm như trước đây TCS không có phẩm. Nhưng quả thật, nhạc TCS ngày nay đã có một cá tính đặc thù quá, nó không còn dễ phổ cập với quần chúng hơn là trước kia. Không khí nhạc của ông mang một vẻ u tịch của một thánh đường, lạnh lùng và thách đố người nghe. Nội dung của nó cũng tự viên thành một bản sắc: tâm sự của một người tuyệt vọng, hát như chưa biết buồn phiền chi mà thực là đã chết trong tâm hồn từ bao giờ rồi. Có lẽ, phải mượn một nhân vật của Thomas Wolfe để nói về tình cảnh của những đứa con lạc loài của người Mẹ - Đời-Sống: “Lost, lost, forever... Naked and alone we came into exile. In her dark womb, we did not know our mother’s face; from the prison of her flesh, have we come into the unspeakable and incommunicable prison of this earth”... Bơ vơ, bơ vơ suốt đời. Chúng ta bị đầy đoạ một cách tàn nhẫn và trơ trọi. Trong đáy vực, ta nào biết được vóc dáng mẹ hiền; trong ngục tù của mẹ, ta bị đẩy vào trần gian lưu đầy không còn truyền đạt và cảm thông gì nữa) (Thomas Wolfe, The Return of the Prodigal).

Còn biết nói gì nữa? Trong khi chờ giây phút vô ngôn mà Nietzsche và Nguyễn Du đã ngộ, tôi vẫn hát để chia nhau chút nổi trôi của phận người, hát rằng “Đôi khi một người dường như chờ đợi thật ra đang ngồi thảnh thơi... Tôi như là người ngồi trong đêm dài nhìn tôi đang quá ngậm ngùi... Tôi như nụ cười nở trên môi người phòng khi nhân loại biếng lười... Tôi như ngọn đèn từng đêm vơi cạn, lửa lên thắp một niềm riêng. Tôi như nụ hồng nhiều khi ưu phiền chờ tôi rã cánh một lần”. (Tự tình khúc). Ơi cuộc đời thân mến, từ nay trong hồn tôi tiếng chuông não nề đã rền vang kiếp người mê sảng. Trên chuyến xe về chốn phôi phai, có ai nghe cùng tôi tiếng chuông gọi hồn? For whom the bell tolls?

Phố Tịnh
X. 1973
(giai phẩm Khai Nguyên, Vĩnh Long, 1973)



[1]  TCS, Ca khúc Trịnh Công Sơn. An Tiêm, 1966
[2] Lời tựa Những tình khúc TCS -1967
[3] Nhân vật trong truyện From here to Eternity của James Jones (1951). Truyện đã lên phim do Montgomery Clift đóng vai chính.
[4] Người ta dễ liên tưởng đến một hiện tượng khác trong sinh hoạt văn nghệ bốn chục năm trước: Thơ mới, một sự lạm dụng danh từ độc đoán và quá đáng.

No comments:

Post a Comment

  Nguyễn Huy Lượng bình văn Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du Đoàn Xuân Kiên     Suốt thời trai tráng, Nguyễn Huy Lượng gắn...